Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật

Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (năm 1982), công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đã thu được những thành tựu quan trọng. Song, bên cạnh đó cũng xuất hiện mặt trái của tình hình, nhất là về kinh tế - xã hội, sự trì trệ về sản xuất, sự rối ren về phân phối, lưu thông và những khó khăn trong đời sống nhân dân.

Năm 1986, Việt Nam đối mặt khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng: lạm phát phi mã, thiếu lương thực, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân rất khó khăn, quy mô nền kinh tế của Việt Nam (GDP) chỉ khoảng 8 tỷ USD, đứng thứ 9/10 trong ASEAN, chỉ xếp trên Myanmar, GDP bình quân đầu người khoảng 200 - 300 USD thuộc nhóm nghèo nhất thế giới...

Hình ảnh: Đại hội lần thứ VI của Đảng: Khởi đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước số 1

Đại hội Đảng lần thứ VI mở đầu công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy sức mạnh, tiềm năng để đưa đất nước tiến lên. Ảnh: TTXVN

Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Ðại hội lần thứ VI của Đảng chỉ rõ: Tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: Sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; tài nguyên của đất nước chưa được khai thác tốt; lưu thông không thông suốt, phân phối rối ren; mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân, nhất là công nhân, viên chức còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển. Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Ðại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân.

Đại hội thể hiện rõ tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm khắc, trung thực, thẳng thắn. Đại hội VI đã thể hiện rõ tầm nhìn trí tuệ và bản lĩnh cách mạng của Đảng ta khi lần đầu tiên dũng cảm công khai thừa nhận “những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”.

Phải đổi mới về nhiều mặt, đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sai lầm khuyết điểm, đổi mới tư lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn, Ðại hội đề ra đường lối đổi mới.

Ðại hội xác định: Ðảng phải trưởng thành về lãnh đạo chính trị, phát triển và cụ thể hóa đường lối, đề ra những giải pháp đúng đắn đối với những vấn đề mới của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Ðể tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Ðảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác.

Đại hội khẳng định: đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn.

Hình ảnh: Đại hội lần thứ VI của Đảng: Khởi đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước số 2
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh gặp gỡ các đại biểu dự Đại hội Đảng lần thứ VI khai mạc ngày 15/12/1986, tại Hà Nội. Ảnh: TTXVN

Vận dụng quan điểm của V.I. Lê-nin “coi nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, Đảng ta nhận thức rõ sự cần thiết đổi mới cơ chế kinh tế theo hướng: 1 - “Xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế”; 2 - Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, trước hết cơ cấu các ngành kinh tế phù hợp quy luật phát triển, trong đó ngoài thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, với khu vực quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế khác, bao gồm tiểu sản xuất hàng hóa, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước và kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp.

“Lần đầu tiên, Đại hội đã khẳng định sự tồn tại khách quan của kinh tế nhiều thành phần, mở đường cho kinh tế tư nhân, tập thể và đầu tư nước ngoài phát triển. Ba chương trình kinh tế lớn được xác định là phát triển lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu nhằm giải quyết cấp bách nhu cầu xã hội, tạo nền tảng phục hồi và phát triển kinh tế”- TS. Trần Văn - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách, nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhìn nhận.

Mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước

Thực tế, như nhìn nhận của TS Lê Thị Thu Hồng, nhiệm kỳ Đại hội VI, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cùng tập thể Bộ Chính trị đột phá vào những khâu yếu nhất, đang là “điểm nghẽn”, đưa ra những quyết sách nhằm ổn định tình hình mọi mặt của đất nước; thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn: Lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; lựa chọn lĩnh vực phân phối, lưu thông làm “mũi đột phá” trong chuyển đổi cơ chế, tạo đà chuyển biến xóa bỏ tình trạng “ngăn sông, cấm chợ”, tạo động lực phát triển sức sản xuất xã hội. Đồng chí chú trọng lãnh đạo đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nhất là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, dẫn tới sự ra đời Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 (còn được gọi là khoán 10), giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất cho kinh tế hộ nông dân và chỉ trong năm sau, từ một nước thiếu ăn, hằng năm phải nhập khẩu hàng chục vạn tấn lương thực, đã chủ động giải quyết được nhu cầu lương thực trong nước và thời gian ngắn sau trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Trên hết, như nhìn nhận của Giáo sư, Tiến sỹ Mạch Quang Thắng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, chính đổi mới đã khơi dậy sức mạnh toàn dân, giải phóng sức lao động và đưa đến những thành công như hôm nay. Trung tướng Lương Đình Hồng cũng khẳng định: “Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra là kết quả của sự khảo nghiệm thực tiễn và đổi mới tư duy lý luận; là bước phát triển có ý nghĩa cách mạng trong nhận thức và hành động của Đảng với những chủ trương, chính sách mang tính đột phá. Đường lối đó đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn lịch sử, thể hiện bản lĩnh vững vàng, tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước”.

Hà Anh

Theo https://www.congluan.vn/