![]() |
| Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng nhanh, mà còn là phát triển bền vững, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế |
Từ hành trình đổi mới đến khẳng định vị thế đất nước
Sau gần 40 năm, Việt Nam đã trải qua một hành trình chuyển mình sâu sắc và toàn diện, từ một nền kinh tế còn nhiều khó khăn, khép kín, quy mô nhỏ, vươn lên trở thành nền kinh tế năng động, có độ mở lớn và hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới.
Một trong những dấu ấn nổi bật trong chặng đường qua đó, GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng trên 100 USD năm 1986 lên gần 5.000 USD vào năm 2025, đưa Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ, với tỷ trọng nông nghiệp giảm từ hơn 40% xuống dưới 15% GDP, trong khi công nghiệp và dịch vụ ngày càng giữ vai trò chủ đạo. Những chuyển biến này không chỉ phản ánh quy mô tăng trưởng, mà còn cho thấy năng lực thích ứng và hội nhập ngày càng cao của nền kinh tế Việt Nam.
Từ một nền kinh tế đóng cửa, Việt Nam đã trở thành một quốc gia xuất khẩu lớn. Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục lập kỷ lục mới. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa vượt 930 tỷ USD - mức cao nhất từ trước tới nay, tăng gấp hàng chục lần so với năm 1990. Không chỉ bảo đảm an ninh lương thực, Việt Nam còn khẳng định vị thế là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới với nhiều mặt hàng giữ thứ hạng cao. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng đưa nền kinh tế tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, từng bước nâng cao vị thế trong mạng lưới sản xuất khu vực và thế giới.
Cùng với đó, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP... Dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng vai trò quan trọng, không chỉ bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và hình thành các trung tâm sản xuất mới. Những yếu tố này kết hợp với nhau đã tạo nền tảng phát triển ngày càng vững chắc và có chiều sâu.
Bên cạnh những thành tựu về kinh tế, các lĩnh vực xã hội cũng ghi nhận nhiều kết quả mang ý nghĩa lịch sử. Một trong những thành tựu nổi bật nhất là tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 58% vào đầu thập niên 1990 xuống còn 1,1% vào năm 2025. Việt Nam được Liên Hợp Quốc đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất trong việc xóa đói giảm nghèo; Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 90%, giúp người dân tiếp cận dịch vụ y tế với chi phí hợp lý…
Dòng vốn đồng hành cùng tiến trình đổi mới và phát triển
Gắn với hành trình phát triển đó, ngành Ngân hàng luôn giữ vai trò quan trọng là một trong những kênh dẫn vốn chủ lực, góp phần hiện thực hóa các chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội.
Theo Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh, sau 40 năm đổi mới, ngành Ngân hàng đã có bước phát triển vượt bậc, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần cùng Chính phủ và cả hệ thống chính trị vượt qua nhiều khó khăn, thách thức trong từng giai đoạn phát triển. Đến cuối năm 2025, hệ thống ngân hàng có 127 tổ chức tín dụng, tổng tài sản đạt gần 28,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với cuối năm 2024 và tăng gấp gần 2.000 lần so với thời kỳ đầu đổi mới. Huy động vốn tăng 15,42% so với cuối năm 2024, gấp gần 1.300 lần so với giai đoạn đầu.
Song song với quá trình mở rộng quy mô, khuôn khổ pháp lý về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng không ngừng được hoàn thiện. Riêng giai đoạn 2021 - 2025, NHNN đã trình ban hành 4 luật, 20 nghị định, 7 quyết định… và ban hành 201 thông tư. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý không chỉ tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, mà còn tạo hành lang để triển khai các cơ chế, chính sách tín dụng hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, dòng vốn tín dụng được định hướng rõ hơn vào khu vực sản xuất - kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng mới. Nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn đã được triển khai, từ phát triển nông, lâm, thủy sản; liên kết sản xuất lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long… đến đầu tư hạ tầng, công nghệ chiến lược, nhà ở xã hội…
Việc định hướng dòng vốn tín dụng và triển khai các chương trình tín dụng quy mô lớn đã góp phần thúc đẩy quy mô tín dụng mở rộng với dư nợ toàn nền kinh tế đạt 18,6 triệu tỷ đồng vào cuối năm 2025, tương đương khoảng 144% GDP, cho thấy mức độ lan tỏa ngày càng lớn của vốn ngân hàng. Quan trọng hơn, dòng vốn không chỉ gia tăng về quy mô mà còn được định hướng hiệu quả hơn, góp phần dẫn dắt nguồn lực vào các lĩnh vực ưu tiên và các ngành có tính lan tỏa cao.
Đáng chú ý, qua từng giai đoạn phát triển, vai trò của ngành Ngân hàng ngày càng được khẳng định rõ nét, từ khơi thông nguồn lực, ổn định kinh tế vĩ mô đến hỗ trợ nền kinh tế vượt qua các cú sốc lớn. Vai trò này đặc biệt thể hiện rõ trong những giai đoạn đất nước khó khăn. Đơn cử sau đại dịch COVID-19, việc cơ cấu lại nợ cho khoảng 1,3 triệu khách hàng với quy mô khoảng 1 triệu tỷ đồng, cùng với giảm lãi suất khoảng 50 nghìn tỷ đồng đã cho thấy sự chủ động và tinh thần đồng hành của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế. Những kết quả này khẳng định, sau gần 40 năm đổi mới, ngành Ngân hàng không chỉ là kênh dẫn vốn chủ lực, mà còn là một trong những trụ cột quan trọng góp phần duy trì tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Hành trang đổi mới và khát vọng vươn mình
Không chỉ tạo ra những thành tựu phát triển cụ thể, 40 năm đổi mới còn để lại cho đất nước một “hành trang” đặc biệt quan trọng về niềm tin, tư duy và bản lĩnh phát triển. Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, giá trị lớn nhất của chặng đường này là niềm tin đã được kiểm chứng bằng thực tiễn từ những đổi thay trong đời sống người dân, sự ổn định chính trị - xã hội đến vị thế quốc gia ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Nhìn lại 40 năm đổi mới, có thể thấy mỗi bước phát triển của nền kinh tế đều gắn với quá trình khơi thông nguồn lực, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực hội nhập. Những thành tựu đạt được không chỉ thể hiện ở quy mô tăng trưởng, mà quan trọng hơn là ở việc hình thành cơ đồ, tiềm lực, vị thế và niềm tin cho một giai đoạn phát triển mới.
Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng nhanh, mà còn là phát triển bền vững, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Như GS.TS. Vũ Văn Hiền - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nhận định, Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế xanh, đầu tư vào con người và hội nhập sâu rộng để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đây không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà còn là khát vọng xây dựng một xã hội công bằng, văn minh và phát triển toàn diện.
Trong tiến trình đó, chuyển đổi số, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ đóng vai trò là động lực tăng trưởng mới, trong khi mô hình phát triển xanh và bao trùm sẽ trở thành yêu cầu xuyên suốt. Sự kết hợp giữa nâng cao năng lực nội sinh và tận dụng hiệu quả cơ hội từ hội nhập quốc tế sẽ quyết định vị thế của Việt Nam trong giai đoạn tới.
Những yêu cầu đó cũng đặt ra đòi hỏi cao hơn về huy động và phân bổ nguồn lực. Ở đó, hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò là kênh dẫn vốn quan trọng, góp phần kết nối và điều tiết dòng vốn tới các lĩnh vực ưu tiên, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng. Không chỉ mở rộng quy mô tín dụng, yêu cầu đặt ra là nâng cao chất lượng dòng vốn, tăng cường quản trị rủi ro và khả năng thích ứng với các mô hình kinh tế mới.
Qua hành trình 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tích lũy được tiềm lực, kinh nghiệm và bản lĩnh để bước vào giai đoạn phát triển mới với tâm thế chủ động, tự tin và khát vọng lớn hơn. Chặng đường phía trước còn nhiều thách thức, nhưng với nền tảng đã được bồi đắp và định hướng phát triển rõ ràng, mục tiêu xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc hoàn toàn có cơ sở để hiện thực hóa trong những thập niên tới.


